English Vietnamese
You have an old version of Adobe's Flash Player. Get the latest Flash player.

CHUYÊN MỤC

 

 
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HUYỆN KBANG


Ban-do-huyen-Kbang-(3).JPG
           KBang là huyện miền núi Đông Trường Sơn, nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Gia Lai, cách Thành phố Pleiku theo quốc lộ 19 và quốc lộ Trường Sơn Đông khoảng 100 km; có toạ độ địa lý: 108017’45” - 1080 44’10” kinh độ Đông, 140 0’ 0” - 140 36’ 23” vĩ độ Bắc. Ranh giới của huyện:
          + Phía Bắc giáp huyện Kon Plông (Tỉnh Kon Tum).
          + Phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định.
          + Phía Nam giáp thị xã An Khê và huyện Đăk Pơ.
          + Phía Tây giáp huyện Mang Yang và Chư Păh.

      Tổng diện tích tự nhiên: 1841,86 km2, trong đó đất sản xuất nông nghiệp hiện tại 32.718,01 ha, chiếm 17,76%.

       Toàn huyện có 13 xã và 01 thị trấn: xã Đăk Rong, xã Sơn Lang, xã Kon Pne, xã Krong, xã Sơ Pai, xã Lơ Ku, xã Nghĩa An, xã Tơ Tung, xã Kông Lơng Khơng, xã Đăk Hlơ, xã Kông Bờ La, xã Đak Smar, xã Đông và thị trấn Kbang.

      KBang có cộng đồng dân cư nhiều dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm 52,3%, các dân tộc thiểu số chiếm 47,7% (trong đó chủ yếu là dân tộc Bah nar 39,4%). Dân số toàn huyện năm 2012 là 64.634 người, mật độ trung bình 35,1 người/km2.
       
          Những tiềm năng và lợi thế: 
          KBang là một vùng đất có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và tiềm năng về nhiều mặt, đó là:
          + Phong phú về tài nguyên rừng (thực vật và động vật). Nguồn tài nguyên này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cho việc cung cấp gỗ, bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học và du lịch sinh thái.
          + Đất đai, với lớp phủ thổ nhưỡng phần lớn có tầng dày tốt, độ phì cao, không chỉ là nền đất cho thảm rừng giàu có phát triển mà còn một phần diện tích để tạo nên những khu vực canh tác tốt. Đặc biệt là đất Bazan thích hợp cho phát triển những cây công nghiệp có giá trị kinh tế, ưu thế về cạnh tranh như: Cao su, cà phê, ca cao, dược liệu, mía, đậu đỗ, rau quả chất lượng cao...
         + KBang có khí hậu nhiệt đới ẩm, chịu ảnh hưởng trực tiếp của cả hai vùng khí hậu: Duyên hải và Tây nguyên, có nền nhiệt độ khá cao và điều hoà, mưa nhiều và phân bố tương đối đều trong năm, mùa khô ngắn (3-4 tháng) và không gay gắt, nên thích hợp với nhiều loại cây trồng, vật nuôi. Hệ thống sông suối dày đặc, phân bố khá đều, có nguồn sinh thuỷ dồi dào quanh năm, có nhiều ghềnh thác, đủ điều kiện xây dựng các công trình thuỷ điện, các đập dâng và hồ chứa loại vừa và nhỏ cung cấp điện và nước tưới cho sản xuất và sinh hoạt.
         + Khoáng sản ở KBang khá phong phú, đặc biệt là vùng mỏ Bauxít trữ lượng 806 triệu tấn trên cao nguyên Kon Hà Nừng; mỏ sắt ở xã Đông, Lơ Ku; các mỏ đá Bazan, đá Granit, đất sét, cát sỏi ở vùng rìa cao nguyên đất đỏ và vùng trũng phía Nam là các khoáng sản đang trong thời kỳ khai thác và thăm dò chuẩn bị khai thác.
         + KBang hiện có 3 hồ thủy điện lớn và 28 hồ đập thủy lợi nhỏ. Các hồ chứa lớn của huyện có thể kể đến hồ Kanak (1.800 ha), hồ B thủy điện Vĩnh Sơn thuộc xã Sơn Lang (1.000 ha), hồ C thủy điện Vĩnh Sơn tại xã Đắk Rong (320 ha), hồ Buôn Lưới (26 ha) thuộc xã Sơ Pai và một số diện tích mặt nước (ao đào, hồ, đầm tự nhiên qua cải tạo) hiện nay đang nuôi thủy sản.
        + Ngoài ra KBang là huyện căn cứ Cách mạng, đang được Chính phủ chọn làm huyện điểm thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới và huyện điểm về Văn hóa – Thể thao và Du lịch.
          Định hướng phát triển của huyện trong thời gian tới:
        Với những điều kiện tự nhiên và tiềm năng lợi thế, huyện Kbang định hướng phát triển kinh tế - xã hội trong những năm tới đó là: Nâng cao tốc độ và chất lượng tăng trưởng; chuyển dịch nhanh nền kinh tế theo hướng công nghiệp, dịch vụ; nhằm rút ngắn khoảng cách chênh lệch về thu nhập bình quân đầu người so với bình quân toàn tỉnh. Phấn đấu đến năm 2020 KBang nằm trong nhóm các huyện có kinh tế - xã hội phát triển trung bình của tỉnh Gia Lai; đến năm 2015 có 10/13 xã và năm 2020 có 13/13 xã đạt chuẩn Nông thôn mới.
          Trọng tâm phát triển thời kỳ 2013-2020:
         - Triển khai các giải pháp cụ thể để giảm nghèo bền vững; hoàn thành chương trình MTQG xây dựng Nông thôn mới và khuyến khích, thu hút đầu tư vào các ngành, các lĩnh vực có lợi thế của huyện như: Nông nghiệp hàng hóa gắn với chế biến và tiêu thụ (chăn nuôi, trồng cao su, nuôi thủy sản hồ chứa...), chế biến nông lâm sản, dịch vụ và du lịch, thuỷ điện và khai thác khoáng sản (vật liệu xây dựng, quặng sắt...).
         - Tập trung vốn đầu tư và huy động các nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là về giao thông nông thôn.
        - Chú trọng phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá. Có chính sách thu hút đối với lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, có trình độ quản lý và kinh doanh. Nâng cao số lượng và chất lượng đào tạo nghề, tăng nhanh tỷ lệ lao động qua đào tạo.
          Mục tiêu cụ thể:
          - Phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất các ngành đạt 13,2% giai đoạn 2013 - 2015 và 12,6 % giai đoạn 2016 – 2020; cả thời kỳ 2011-2020 đạt 12,1 %. Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 27 triệu đồng; năm 2020 đạt 60,7 triệu đồng. 
          - Cơ cấu giá trị sản xuất đến năm 2015 là: Nông, lâm và thủy sản 58% - Công nghiệp, xây dựng 21% - Dịch vụ 21%. Năm 2020 là: Nông, lâm và thủy sản 50,9% - Công nghiệp, xây dựng 22,9% - Dịch vụ 26,2%. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển dịch vụ, công nghiệp.
           - Thu ngân sách trên địa bàn từ 30,9 tỷ đồng năm 2012 lên 53,5 tỷ đồng năm 2015 và 144,5 tỷ đồng năm 2020.
          - Giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống 1,3% vào năm 2015 và 1,2% vào năm 2020. Thực hiện có hiệu quả chương trình giảm nghèo, các chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc ít người các xã vùng sâu vùng xa, đặc biệt khó khăn, khắc phục tình trạng chênh lệch giữa các vùng. Đến năm 2015 hộ nghèo giảm xuống còn dưới 26,77%, năm 2020 còn dưới 7% (đạt tiêu chí NTM).
         - Đến năm 2020 trẻ em đi học so với trong độ tuổi: mẫu giáo đạt 98,9%, tiểu học đạt 99%, THCS đạt 99%, THPT đạt 75%. Cơ sở vật chất trường học đạt chuẩn quốc gia trên 70%.
          - Nâng cấp cơ sở vật chất hệ thống bệnh viện, trạm y tế xã. Bổ sung và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ y tế. Đến 2015 có 84,6% số trạm trạm y tế xã đạt chuẩn, có bác sỹ đạt 100%; năm 2020 trạm y tế đạt chuẩn 100%. Mở rộng bảo hiểm y tế toàn dân, trước hết là các hộ nghèo, hộ chính sách. Thực hiện chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ em đạt tỷ lệ 95-98%, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng xuống dưới 15% vào năm 2015 và dưới 10% vào năm 2020. Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 95%; sử dụng điện đạt 98-99% vào năm 2015, năm 2020 đạt 100%. 
          - Nâng cấp, xây dựng hoàn thiện cơ sở vật chất văn hóa – thể thao huyện; Nâng cấp và xây dựng mới cơ sở vật chất Văn hóa – Thể thao xã và thôn làng, đến 2015 đạt chuẩn 50%, năm 2020 đạt 100%. Đẩy mạnh các hoạt động văn hoá, thể thao, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; thực hiện có hiệu quả cuộc vận đồng “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”. Đến 2015 có 65% thôn làng tổ dân phố đạt chuẩn văn hoá, 85% gia đình văn hóa. Đến 2020 số thôn làng văn hóa đạt 90%, gia đình văn hóa đạt 100%. Đồng thời xây dựng KBang trở thành huyện điểm về Nông thôn mới và Văn hóa – thể thao & du lịch.
         Với định hướng phát triển huyện Kbang trở thành vùng kinh tế cửa ngõ phía Đông của tỉnh và kết hợp với đặc điểm phân vùng tự nhiên, huyện Kbang quy hoạch định hướng phát triển các tiểu vùng kinh tế trên địa bàn huyện:
         * Phát triển tiểu vùng kinh tế trung tâm (thị trấn KBang): thành đô thị loại V thuộc tỉnh, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa-xã hội của huyện KBang. Trọng tâm phát triển của thị trấn là: Cụm công nghiệp Tây sông Ba; trung tâm thương mại thị trấn KBang (chợ huyện loại II, 2 siêu thị tổng hợp, khu phố thương mại xung quanh chợ); trung tâm các dịch vụ: vận tải – bưu chính viễn thông, tài chính - ngân hàng, giáo duc-đào tạo, y tế - văn hóa - thể thao... đầu tư hoàn thiện hệ thống giao thông đô thị, các tuyến giao thông vành đai phía Đông và phía Tây kết nối với tuyến quốc lộ Trường Sơn Đông và tỉnh lộ 669, tạo sự kết nối với các tiểu vùng trong huyện, với các huyện trong tỉnh và các tỉnh lân cận; đầu tư hệ thống cấp, thoát nước và bưu chính viễn thông. Phát triển sản xuất thực phẩm sạch (rau, hoa, quả, thịt, cá) ven thị trấn, cung cấp cho cụm công nghiệp, khu du lịch và nội thị.
          * Phát triển tiểu vùng kinh tế phía Nam: gồm các xã Lơ Ku, Đak Smar, Đăk Hlơ, Kông Bờ La, Kông Lơng Khơng, Tơ Tung, Nghĩa An và xã Đông; đây là tiểu vùng gò đồi, núi thấp phía Nam huyện. Trọng tâm phát triển là: Chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa tập trung quy mô công nghiệp; cây công nghiệp hàng năm (mía, đậu đỗ). Cơ cấu kinh tế của tiểu vùng là: Nông nghiệp - Công nghiệp - Dịch vụ. Trung tâm tiểu vùng là trung tâm cụm xã Kông Lơng Khơng.
          * Phát triển tiểu vùng kinh tế phía Bắc: gồm các xã Krong, Sơ Pai, Sơn Lang, Đăk Rong và Kon Pne; đây là vùng núi và cao nguyên Bazan Kon Hà Nừng. Trọng tâm phát triển của vùng là: phát triển cây công nghiệp lâu năm (cà phê, cao su), cây ăn quả, cây lâu năm khác (bời lời, dược liệu) gắn với bảo vệ, khai thác kinh tế rừng với phát triển du lịch sinh thái. Cơ cấu kinh tế của tiểu vùng là: Nông nghiệp - Công nghiệp - Dịch vụ. Trung tâm tiểu vùng là trung tâm cụm xã Sơn Lang.
          Với định hướng phát triển thị trấn KBang là đô thị loại V thuộc tỉnh; xã Sơn Lang ở phía Bắc và xã Kông Lơng Khơng phía Nam là hai trung tâm tiểu vùng chắc chắn sẽ làm hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên toàn địa bàn huyện. 

Copyright © 2012 Bản quyền thuộc về UBND huyện Kbang.
Phát triển bởi Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Gia Lai.
Chịu trách nhiệm: Ông Lê Duy Kiên - Chánh văn phòng HĐND-UBND huyện Kbang.
Địa chỉ: thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai - Điện thoại: (059) 3834812 - Email:ubndkbang@gialai.gov.vn
Giấy phép số: 91/GP-TTĐT ngày 29/6/2012 của Cục QL Phát thanh, truyền hình và Thông tin điện tử thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông.