CHUYÊN MỤC

gt-(1).jpg

 


Quá trình hình thành và phát triển của xã: 
- Quá trình thành lập: Xã đông là một xã được thành lập theo Nghị định số 181/NĐ-HĐBT ngày 28/12/1984 của hội đồng bộ trưởng (nay là chính phủ), toàn xã có diện tích tự nhiên 16.416 ha, Năm 2006 chính phủ ban hành nghị định
số : 39/NĐ-CP về chia tách xã mới (Xã Đắk Smar) từ xã Đông. Hiện nay xã Đông có tổng diện tích tự nhiên 3.597,84 ha; có 4.401 hộ 5.881 khẩu; có 92,43% dân số sống bằng nghề nông nghiệp; 7,06% sống bằng nghề tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ.
UBND xã đã trang bị cơ bản đầy đủ cơ sở, vật chất phục vụ cho công tác chuyên môn, hiện nay toàn xã có 15 máy vi tính, 01 máy scan, 01 máy phô tô, bán ghế, phòng làm việc đều đảm bảo phục vụ công tác chuyên môn.
Toàn xã có 11 thôn, làng, hiện nay 10 thôn, làng đã có mạng internet, có khoảng trên 90% số hộ có sử dụng điện thoại kết nối được 3G, 4G, internet .

Thông tin về địa giới hành chính, điều kiện tự nhiên, văn hóa, di tích … :
Xã Đông, nằm ở phía Đông Nam thuộc huyện Kbang, tỉnh Gia Lai, cách trung tâm huyện 05 km, là xã ven đô, có địa hình thuộc vùng trung du và tương đối bằng phẳng; có đường tỉnh lộ 669 chạy qua lợi thế trong việc giao lưu trao đổi, buôn bán hang hóa;  ranh giới hành chính giáp với các xã: Phía Đông giáp với xã Nghĩa An. Phía Tây giáp với xã Lơ Ku+ Xã Tơ Tung; Phía  Nam giáp Xã Kông lơng khơng + Kong bờ la+ ĐăkHlơ, Phía NBắc giáp với Thị Trấn Kbang + xã Đắk Smar.
 
Là một xã vùng II với cơ cấu kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp gắn với phát triển dịch vụ, qua quá trình sản xuất người dân đã dần tích lũy kinh nghiệm, biết áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trồng trọt và chăn nuôi. Với địa hình đất đai vừa đồi núi vừa đất bằng và cây trồng chủ lực là mía, mỳ, cà phê và một số cây rau màu như Ớt, Dưa, Bí, chanh dây... về vật nuôi chủ yếu là Bò lai, bò thịt, heo hướng nạc. Bên cạnh hiện đang vận động nhân dân chuyển dần sang cây Keo lai đối với những vùng đất đồi, đất đốc hoang hóa, bạc màu…từ đó kinh tế từng bước phát triển nhanh.
Dân số toàn xã là có 4.401 hộ với 5.881 khẩu, trong đó BahNar là 395 hộ  = 1.721 khẩu, dân tộc khác 86=350 khẩu , dân tộc kinh 3.920 hộ = 3.810 khẩu;  với 11 thôn, làng.